Những người có nguy cơ cao mắc COVID-19 là ai? Mọi người nên chủ động tìm hiểu đối tượng có nguy cơ cao để phòng chống hiệu quả, giảm thiểu nguy cơ mắc COVID-19. Mời bạn cùng iCareBase trả lời câu hỏi trên trong nội dung bài viết dưới đây nhé.

COVID-19 truyền nhiễm như thế nào?

SARS-CoV-2 ?

Theo CDC Hoa Kỳ, SARS-CoV-2 – một loại coronavirus mới được xác định là nguyên nhân gây ra bệnh coronavirus 2019 (COVID-19). Virus SARS-CoV-2 là viết tắt của từ Severe acute respiratory syndrome) – Hội chứng suy hô hấp cấp nặng là một dạng viêm phổi nặng ở người. Bệnh lây lan rất nhanh từ người sang người qua dịch tiết: tiếp xúc giọt bắn, bề mặt đồ vật của người đã mắc COVID-19. Ở người, hiếm có khả năng miễn dịch từ trước đó, vì vậy, tiêm phòng COVID-19 là biện pháp phòng ngừa tối ưu được khuyên thực hiện nhất bây giờ.

COVID-19 truyền nhiễm như thế nào?

COVID-19 lan truyền từ người sang người thông qua dịch tiết xuất phát từ miệng người nhiễm bệnh khi họ ho, hắt hơi, nói chuyện và thở. Khi bạn tiếp xúc với người mắc COVID-19 bằng các đường lây dưới đây, bạn là người có nguy cơ cao mắc COVID-19:

  • Giọt bắn – dịch tiết đường hô hấp do ho hoặc hắt hơi rơi xuống bề mặt niêm mạc (mũi miệng và mắt).người có nguy cơ cao mắc covid-19
  • Aerosol – là hệ keo của các hạt chất rắn hoặc các giọt chất lỏng trong không khí.
  • Tiếp xúc – người khác chạm vào bề mặt có virus và vô tình chạm lên mắt mũi miệng.
  • Các con đường khả thi khác – Qua phân.

Người nguy cao mắc COVID-19

Thời kỳbệnh

Thời kỳ ủ bệnh là khoảng thời gian từ khi tiếp xúc với virus SARS-CoV-2 gây bệnh COVID-19 đến khi bắt đầu xuất hiện các triệu chứng: Sốt, ho, khó thở, viêm họng, mệt mỏi, mất khứu giác và vị giác…

Với người mắc COVID-19, các triệu chứng có thể xuất hiện từ 2-14 ngày sau khi tiếp xúc. Cũng có một vài nghiên cứu chỉ ra rằng người nhiễm bệnh phát hiện trước khi xuất hiện những triệu chứng kể trên. CDC Hoa Kỳ chỉ ra rằng, người dễ lây nhiễm bệnh nhất khi họ có nhiều triệu chứng nhất.

Người nguy cao mắc COVID-19

Những người trên 50 tuổi là những người có nguy cơ cao mắc COVID-19, đặc biệt là khi họ có các bệnh nền như sau:

Béo phì và và COVID-19:

Béo phì làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 46%, tăng nguy cơ nhập viện khi đã mắc COVID-19 lên 113%, tăng nguy cơ chuyển vào khoa hồi sức tích cực (ICU) lên 74%, và gia tăng nguy cơ tử vong lên 48% so với người bệnh có tình trạng dinh dưỡng bình thường.

Béo phì làm gia tăng nguy cơ mắc và tiên lượng nặng khi mắc COVID-19 thông qua nhiều cơ chế khác nhau. Trước tiên bản thân mô mỡ ở người béo phì kích thích tiết ra nhiều cytokine có tác dụng gây viêm và phá hủy tế bào như interleukin (IL)-1, IL-6, IL-7 và TNF-alpha hơn so với người bình thường. Đây cũng là những nhóm chất mà cơ thể chúng ta bị gia tăng khi mắc bệnh COVID-19.

Ngoài ra, các biến chứng của bệnh béo phì như rối loạn chức năng thông khí, khó thở lúc ngủ do tắc nghẽn do béo phì gây ra cũng góp phần làm giảm chức năng hô hấp khi mắc bệnh COVID-19.

Bệnh tiểu đường hoặc hội chứng chuyển hóa và COVID-19:

SARS-COV-2 có khả năng liên kết với các thụ thể ACE-2, hiện diện trong một số nội tạng chuyển hóa quan trọng – bao gồm tế bào tuyến tụy, mô mỡ, ruột non, gan và thận. Vì thế, nó có thể gây ra nhiều thay đổi đồng thời trong quá trình chuyển hóa glucose, làm phức tạp tình trạng của bệnh tiểu đường sẵn có hoặc dẫn đến các ca tiểu đường mới.

Theo các nhà khoa học tại Viện Y tế Quốc gia Ý, hai trong số những tác động nghiêm trọng của SARS-CoV-2 với người bệnh tiểu đường đã được phát hiện. Thứ nhất là rối loạn hoạt động của hệ miễn dịch làm tăng nặng thêm tình trạng nhiễm trùng và mất khả năng kiểm soát sự lây lan của virus. Và thứ hai là tổn thương tim cấp tính như viêm cơ tim, nhồi máu cơ tim, suy tim cấp tính, rối loạn nhịp tim làm tăng nguy cơ tử vong.

Bệnh về phổi và COVID-19:

Theo số liệu thống kê tại Italy – nơi có số ca tử vong do Covid-19 cao nhất thế giới, ngoài người già ra, có 50% số trường hợp có 3 bệnh nền, 1/4 số trường hợp có 2 bệnh nền, 1/4 có 1 bệnh nền. Số ca tử vong không có bệnh nền chỉ dưới 1%. Bệnh nền có nhiều loại như đái tháo đường, cao huyết áp… nhưng chỉ với 1 bệnh phổi nền thì đã rất nguy hiểm. Ví dụ bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, lao phổi. Nếu đang bị lao mà mắc Covid-19 thì rất nguy hiểm.

Bởi, virus SARS-COV-2 là một dạng gây viêm phổi nặng ở người, khi đã có những bệnh nền về phổi và mắc COVID-19, phổi sẽ không chịu được những tổn thương do đồng thời 2 căn bệnh cùng gây ra, hệ miễn dịch suy yếu, nguy hiểm đến tính mạng.

Bệnh thận và COVID-19:

Nếu nhiễm Covid-19, người bệnh thận mạn dễ bị bệnh nặng hơn người bình thường, chức năng thận càng bị sụt giảm nhiều hơn. Bệnh thận càng nặng, hậu quả của Covid-19 càng nặng nề hơn, nguy cơ nhập viện và tử vong cao hơn rất nhiều.

Virus SARS-CoV-2 gây tổn thương trực tiếp làm hoại tử tế bào ở thận hoặc gián tiếp thông qua các đáp ứng viêm, tổn thương nội mạc mạch máu, tình trạng tăng đông, thiếu ô xy cho mô, thiếu nước…

Tăng huyết áp và COVID-19:

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người bị tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh mạch vành, béo phì có nhiều khả năng mắc COVID-19. Phân tích từ các nghiên cứu khác nhau cho thấy, huyết áp cao là tình trạng bệnh lý đã có từ trước, phổ biến nhất ở những người nhập viện do COVID-19.

Tăng huyết áp đẩy nhanh quá trình xơ vữa động mạch, dẫn đến các biến chứng tim mạch và có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng và tử vong do COVID-19. Một nghiên cứu khác do Tạp chí Dị ứng và Miễn dịch học Lâm sàng tiến hành cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp cao hơn ở những bệnh nhân có các triệu chứng của COVID-19 nặng.

Rối loạn tự miễn dịch và COVID-19:

Các nhà khoa học Mỹ phát hiện nhiều bệnh nhân COVID-19 có lượng kháng thể ‘lệch lạc’ trong máu. Chúng tấn công chính tế bào, nội tạng và hệ miễn dịch thay vì đánh bật các virus xâm nhập.người có nguy cơ cao mắc covid-19

Bệnh nhân COVID-19 có kháng thể tự miễn trong máu thường rơi vào tình trạng nguy hiểm hơn. Kháng thể tự miễn là kháng thể tấn công nhầm lẫn vào các protein trong cơ thể con người và gây rối loạn. Ngoài ra, các hội chứng hậu COVID-19 có thể bắt nguồn từ kháng thể tự miễn vẫn hiện diện trong cơ thể bệnh nhân vốn đã phục hồi.

Lịch sử điều trị ung thư và COVID-19:

Người có bệnh nền thường suy giảm hệ miễn dịch, nếu nhiễm nCoV sẽ không đủ khả năng để kìm hãm sự phát triển của virus khiến chúng tăng nhanh về số lượng và gây tổn thương các cơ quan khác. Bệnh nhân đang hoặc đã điều trị ung thư hoặc vừa kết thúc đợt điều trị hóa chất, xạ trị, phẫu thuật… càng dễ bị tấn công.

Người bệnh ung thư nhiễm nCoV sẽ ảnh hưởng đến liệu trình điều trị, diễn biến bệnh càng trầm trọng hơn. Bệnh nhân ung thư ở giai đoạn càng muộn, sức khỏe càng yếu, hệ miễn dịch càng giảm suy giảm, thì nguy cơ nhiễm nCoV và diễn tiến nặng càng cao.

Covid-19 gây ho sốt, nên bệnh nhân ung thư, đặc biệt là ung thư phổi, đang hoặc vừa được điều trị phẫu thuật, vào hóa chất… nguy cơ gặp biến cố lâm sàng nặng hơn.

Tiền sử dùng Corticosteroid thường xuyên và COVID-19:

Thuốc corticosteroid được sử dụng trong nhiều bệnh lý với tác dụng chống viêm và ức chế miễn dịch. Thuốc đã được thử nghiệm trên những bệnh nhân nhập viện với COVID-19 trong thử nghiệm lâm sàng RECOVERY và cho kết quả có lợi cho bệnh nhân bị bệnh nặng. Đối với những bệnh nhân phải thở máy, việc điều trị được chứng minh là làm giảm tỷ lệ tử vong.

Nhưng nếu tiền sử có dùng Corticosteroid  thường xuyên hoặc dùng sớm (giai đoạn virus tăng sinh) có thể không có lợi so với giai đoạn sau (phản ứng miễn dịch) khi lượng virus đã giảm đi nhiều. Ngoài ra, việc không tính đến những bệnh lý kèm theo của bệnh nhân cũng có thể dẫn đến biến chứng khi dùng corticosteroid như tăng đường huyết, tăng nhãn áp, loạn thần…

Hãy lưu ý những người có nguy cơ cao mắc COVID-19 để phòng chống và bảo vệ kịp thời bản thân, gia đình và mọi người được an toàn, khỏe mạnh. Hy vọng chúng ta sẽ cùng đồng lòng thực hiện nghiêm quy tắc 5K đẩy lùi đại dịch COVID-19.

Xem thêm: Các bệnh lý nền khiến COVID-19 dễ tấn công cơ thể là gì?

0 0 bình chọn
Article Rating