Tại Việt Nam, thực trạng quá tải đang là tình trạng chung tại các khoa cấp cứu của nhiều bệnh viện tuyến cuối hoặc bệnh viện đa khoa tại TPHCM. Việc dồn tải quá nhiều và chưa có một hệ thống thông minh điều phối nhằm nhận biết hiện trạng các khoa cấp cứu, đã đặt cả các y bác sỹ và người bệnh vào rất nhiều rủi ro.

Trước những năm 1980, ở Việt Nam không có hiện tượng quá đông bệnh nhân ở các bệnh viện. Tình trạng quá tải bệnh nhân ở các bệnh viện công bắt đầu xuất hiện khi có sự thay đổi trong hệ thống y tế đáp ứng với tiến trình cải cách nền kinh tế xã hội theo nền kinh tế thị trường.

Đặc biệt trong hơn 10 năm gần đây, hiện tượng quá tải bệnh viện đã ngày càng trầm trọng và xuất hiện ở tất cả các tuyến với tình trạng nằm ghép 2 – 3 người một giường, có khi bệnh nhân đưa vào khoa cấp cứu phải nằm “Chờ” ngoài hành lang để xếp hàng được “cấp cứu”. Bệnh viện thì luôn trong trạng thái báo động quá tải do bác sĩ ít, bệnh nhân nhiều.

cấp cứu

1. Cấp cứu quá tải – Trang thiết bị vật tư còn thiếu

Trung tâm cấp cứu 115 TP Hồ Chí Minh chỉ có 11 xe cấp cứu, trong đó 5 xe thường trực, 4 xe dự phòng cho các sự kiện lễ hội trên địa bàn, 2 xe chờ thanh lý do hết hạn sử dụng; Toàn Trung tâm chỉ có 142 người, nhưng phải hoạt động trên địa bàn quá rộng lớn, cùng nhiều khó khăn khác về trang thiết bị, vật tư…

Trung tâm cấp cứu 115 Hà Nội có 22 xe cứu thương, đều ở trong tình trạng rất xập xệ, mỗi chiếc đã chạy tới 300 nghìn km và không phải là xe cấp cứu chuyên dụng theo quy định mới của Chính phủ, nên không đáp ứng được yêu cầu về xử lý chuyên khoa, kiểm soát nhiễm khuẩn trong xe. Một số xe còn rơi vào tình trạng hỏng hóc, trang thiết bị chưa đồng bộ, xuống cấp, một số trang thiết bị còn thiếu.

Theo báo cáo từ bệnh viện Chợ Rẫy, trung bình một ngày có hơn 5.500 bệnh nhân đến khám, cấp cứu, gần 50% bệnh nhân không sử dụng hoặc không có BHYT. Về nội trú, mỗi ngày có hơn 2.700 trường hợp nằm viện, hơn 76% bệnh nhân sử dụng BHYT. Do bệnh viện quá tải nên đã có nhiều bệnh viện vệ tinh và hợp tác với 13 bệnh viện, chuyển gần 7.000 bệnh nhân trong 6 tháng qua.

Tình trạng quá tải này phổ biến ở các bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và trở thành một trong các vấn đề ưu tiên cần được quan tâm cấp bách của ngành y tế cũng như của toàn xã hội. Khu vực địa bàn TP.HCM hiện có 24 quận, huyện rất rộng. Có những nơi rất xa, khi cần cấp cứu nhưng xe cứu thương khó đến nơi, thời gian di chuyển lâu, buộc người dân đi cấp cứu bằng phương tiện tự túc.

cấp cứu quá tải

VD: bệnh nhân ở khu vực cách xa trung tâm thành phố bị chấn thương đầu mà không được hỗ trợ y tế đầy đủ, không có nẹp cổ, việc vận chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế bằng phương tiện tự túc không chuyên dụng và không có nhân viên y tế, thì người bệnh có nguy cơ bị chấn thương nặng hơn, có thể liệt, thậm chí tử vong.

2. Sự ảnh hưởng không nhỏ từ tình trạng quá tải

2.1 Chất lượng dịch vụ và an toàn của bệnh nhân

Tình trạng quá tải làm tăng nguy cơ xảy ra những sự cố y khoa gây nguy hại đến bệnh nhân. Nếu sự cố nhẹ có thể gây kéo dài thời gian nằm viện của bệnh nhân, ảnh hưởng đến chức năng một số cơ quan trên cơ thể, sự cố nặng có thể gây mất chức năng vĩnh viễn hoặc dẫn đến tử vong. Chưa kể, khi sự cố y khoa xảy ra, thường theo sau đó là những vụ khiếu kiện của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân đối với nhân viên y tế và cơ sở khám, chữa bệnh.

Tình trạng quá tải giường bệnh, quá đông bệnh nhân sẽ dẫn tới nguy cơ không đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh và an toàn của bệnh nhân. Việc kê thêm giường bệnh, nhận quá đông bệnh nhân trong khi diện tích mặt bằng không tăng, cơ sở vật chất đầu tư không hợp lý và đúng thiết kế, thiếu nhân lực sẽ dẫn tới các bệnh viện không đảm bảo được các tiêu chuẩn kỹ thuật vận hành theo quy định.

Hậu quả trên khiến nhiều bệnh nhân không được cấp cứu trong “thời gian vàng”, không được hỗ trợ y tế đúng cách, dẫn tới tình trạng bệnh nặng hơn, thời gian điều trị dài, kéo theo nhiều hệ lụy xã hội khác.

cấp cứu bệnh nhân

>>> Xem thêm: “Thời gian vàng” trong cấp cứu quan trọng như thế nào?

2.2 Ảnh hưởng tới sức khỏe nhân viên y tế

Tình trạng thiếu nhân lực do nhiều bệnh viện phải bố trí làm ngoài giờ, thêm giờ, tăng thời gian và khối lượng công việc để tránh ùn tắc bệnh nhân dẫn tới tình trạng nhân viên y tế không được nghỉ bù, nghỉ trực đầy đủ theo quy định, có thể làm ảnh hưởng tới sức khỏe của nhân viên y tế và chất lượng dịch vụ.

Không riêng ở Việt Nam mà các nhân viên y tế tại nhiều nước trên thế giới đang bị “hội chứng burn-out”. Có nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nhân viên y tế dễ bị hội chứng này. Nhưng theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), hệ thống y tế các nước cần quan tâm đến quan điểm hệ thống trong “cải thiện điều kiện làm việc cho nhân viên y tế”.

Đó là cảnh báo của TCYTTG qua chuyên đề “Health workforce burn-out” được đăng trên Tạp chí “Bulletin of the World Health Organization” (Volume 97, Number 9, tháng 9/2019). Theo TCYTTG, nhu cầu ngày càng tăng đối với các dịch vụ y tế đang gây căng thẳng chưa từng thấy đối với các hệ thống y tế của nhiều nước trên thế giới, trong đó nhân viên y tế đang chịu một sức ép rất lớn. Nhiều người đang bị “hội chứng burn-out”, điều này sẽ tước đi nguồn tài nguyên quan trọng nhất của hệ thống y tế của bất kỳ một quốc gia nào, đó là nhân viên y tế.

Theo Phân loại bệnh quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới, những người bị “hội chứng burn-out” thường cảm thấy bị kiệt sức, cảm thấy hoài nghi về công việc của chính họ, và hiệu quả công việc giảm hẳn, hậu quả là khiến bệnh nhân sẽ gặp nguy hiểm. Cho đến nay, không rõ đã có bao nhiêu người làm việc trong ngành y tế trên toàn thế giới bị hội chứng này. Một cuộc khảo sát gần đây của Hiệp hội Y học Nghề nghiệp Quốc tế đã ước tính tỷ lệ mắc “hội chứng burn-out” của 30 quốc gia theo mức thu nhập, tỷ lệ bị hội chứng “burn-out” nằm trong khoảng từ 17,2% (Nhật Bản) và 32% (Canada).

Về nguyên nhân, được nhắc đến đầu tiên là khối lượng công việc của nhân viên y tế tăng rõ rệt tương đồng với mục tiêu gia tăng tỷ lệ bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, trong đó có sự gia tăng rõ rệt số lượng bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính không lây, nhu cầu gia tăng đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là điều trị các bệnh về cơ xương khớp, sức khỏe tâm thần và các bệnh không lây nhiễm khác như ung thư và bệnh tim. Khối lượng công việc tăng, nhu cầu chăm sóc phức tạp hơn và kỳ vọng của người bệnh cao hơn là những nguyên nhân phổ biến của “hội chứng burn-out” ở nhân viên y tế.

cấp cứu

>>> Xem thêm: Y tế dự phòng và Y tế điều trị: Cần chủ động phân biệt

3. Giải pháp cải thiện cho tình trạng quá tải y tế

Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đã được Bộ Y tế giao nhiệm vụ thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng quá tải, dưới tải của hệ thống bệnh viện các tuyến và đề xuất giải pháp khắc phục”. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tổng thể tình trạng quá tải, dưới tải ở bệnh viện các tuyến, phát hiện các nguyên nhân chủ yếu nhằm cung cấp bằng chứng cho Bộ Y tế đưa ra được các giải pháp chính sách giải quyết phù hợp.

Các giải pháp được thực hiện gồm:

  • Tích cực đầu tư nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng bệnh viện;
  • Xây dựng và phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh;
  • Thí điểm xây dựng mô hình phòng khám bác sĩ gia đình;
  • Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới trạm y tế xã;
  • Đẩy mạnh các hoạt động y tế dự phòng;
  • Xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách y tế;
  • Đẩy mạnh công tác thông tin và truyền thông.

Đến năm 2020, theo báo cáo của Bộ Y tế đề cập đến một số kết quả triển khai thực hiện “Đề án giảm tại quá tải bệnh viện giai đoạn 2018 – 2019” cho thấy đã giảm ít nhất 50% tình trạng quá tải bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương. Theo đó, trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế đã tích cực tổ chức, triển khai, chỉ đạo, xây dựng văn bản, chính sách hỗ trợ thực hiện giảm quá tải bệnh viện tuyến tỉnh, đặc biệt là tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

>>> Xem thêm: Người dân Việt Nam thường gặp trở ngại gì đối với vấn đề sức khỏe?

>>> Xem thêm: Tại sao nền Y tế dự phòng quan trọng trong thời đại này?

 

 

 

5 1 bình chọn
Article Rating