Bệnh bạch hầu liên tiếp xuất hiện ở Việt Nam khoảng 5 năm trở lại đây tại những tỉnh ở miền Trung, Tây Nguyên như: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Đắk Lắk… Từ rải rác xuất hiện 1 – 2 trường hợp ở một số vùng, thì nay bệnh bạch hầu đã liên tục lây nhiễm cho hàng chục bệnh nhân, khiến hàng nghìn người cách ly điều trị, bệnh thậm chí lây lan thành dịch trên phạm vi rộng, đe dọa sức khỏe, tính mạng của cộng đồng.

Hiện chưa xác định được nguồn lây truyền bệnh bạch hầu tại xã Quảng Hòa và xã Đắk R’măng. Hai ổ dịch này không có mối liên quan với nhau cũng như không có mối liên quan với ổ dịch bạch hầu đã xảy ra tại địa bàn huyện Krông Nô hồi đầu tháng 6/2020.

>>> Xem thêm: Bệnh bạch hầu và 7 vấn đề cần giải đáp

1. Bệnh Bạch Hầu xuất hiện tại khu vực nào ở Việt Nam?

Bệnh bạch hầu – một căn bệnh nguy hiểm có thể gây tử vong ở cả người lớn và trẻ nhỏ. Trước đó, tỉnh Đắk Nông đã ghi nhận 12 người dương tính với bệnh bạch hầu tại 3 ổ dịch. Một cháu bé 9 tuổi đã tử vong, 1.200 người dân bắt buộc cách ly và điều trị dự phòng. Cùng với Bộ Y tế, người dân toàn tỉnh Đắk Nông đang ráo riết ngăn chặn, dập tắt sự lây lan khủng khiếp của bệnh bạch hầu.

bệnh bạch hầu

Đến ngày 23/6/2020, tỉnh Đắk Nông ghi nhận 12 ca nhiễm, 1 ca tử vong, 1 ca đang có diễn biến bạch hầu trở nặng và thêm một số trường hợp có triệu chứng nghi ngờ nhiễm bạch hầu tại 2 xã Quảng Hòa và Đắk R’măng.

Hàng chục nhân viên y tế và các bệnh nhân cùng phòng đã được uống thuốc điều trị dự phòng. 16 người tiếp xúc gần nơi bệnh nhân đang sinh hoạt, học tập đã được cách ly và uống thuốc điều trị dự phòng. TP.HCM là địa phương thứ hai ghi nhận dịch bạch cầu, sau Đắk Nông.

2. Bệnh bạch hầu là gì và xuất hiện từ khi nào?

Bệnh bạch hầu (tiếng Anh là diphtheria) – một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc ở tuyến hạnh nhân (A-mi-đan), hầu họng, thanh quản, mũi. Bệnh có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu – tên khoa học là Corynebacterium Diphtheria gây ra.

Bệnh được Hippocrates miêu tả lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên. Một số tài liệu cũng gợi ý đến sự hoành hành của bệnh bạch hầu ở Syria và Ai Cập cổ đại. Các nhà khoa học đã tìm ra vi khuẩn gây bệnh vào khoảng năm 1883-1884, và kháng độc tố được phát minh vào cuối thế kỷ XIX.

Bệnh bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng vi khuẩn nghiêm trọng thường ảnh hưởng đến màng nhầy của mũi và cổ họng của bạn. Mặc dù nó lây lan dễ dàng từ người này sang người khác, nhưng bệnh bạch hầu lại cực kỳ hiếm ở Hoa Kỳ và các nước phát triển khác, nhờ tiêm chủng vắc-xin rộng rãi chống lại căn bệnh này.

bệnh bạch hầu

3. Đối tượng nào dễ bị nhiễm bệnh bạch hầu?

Hiện nay, bệnh bạch hầu chưa được loại trừ triệt để ở Việt Nam. Do đó người dân vẫn có thể mắc bệnh nếu chưa tiêm vắc xin phòng bệnh và tiếp xúc với mầm bệnh. Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 17/2019/TT-BYT về việc hướng dẫn giám sát đối với 9 loại bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, trong đó có căn bệnh bạch hầu.

Các đối tượng dễ mắc bệnh bạch hầu:

  • Người ở mọi độ tuổi có tiếp xúc với người bị nhiễm bạch hầu, đi du lịch đến các vùng dịch tễ của bệnh bạch hầu nhưng chưa được tiêm phòng vắc xin;
  • Đối với trẻ sơ sinh: thường có miễn dịch thụ động từ mẹ truyền sang con nên không mắc bệnh nhưng miễn dịch bảo vệ này sẽ mất đi khi trẻ 6 tháng – 1 tuổi nên trẻ sẽ có nguy cơ mắc bệnh nếu không tiêm vắc xin;
  • Trẻ em dưới 15 tuổi nếu chưa có miễn dịch từ vắc-xin rất dễ mắc bệnh;

Những người có nguy cơ rủi ro mắc bệnh bạch hầu cao, bao gồm:

  • Trẻ em và người lớn không được tiêm chủng vắc-xin bạch hầu
  • Người sống trong điều kiện đông đúc hoặc mất vệ sinh
  • Bất cứ ai đi đến nơi có nhiễm trùng bạch hầu hoặc sống gần khu vực có dịch bệnh
  • Người đi du lịch đến một quốc gia hoặc khu vực đang có dịch bệnh bệnh bạch hầu mà bản thân chưa tiêm chủng.
  • Người không cập nhật về tình trạng tiêm chủng của mình
  • Người bị rối loạn hệ thống miễn dịch, chẳng hạn như AIDS

>>> Xem thêm: Vắc-xin ngừa bệnh bạch hầu vì sao quan trọng và 15 vấn đề liên quan

4. Triệu chứng thường gặp của Bệnh bạch hầu là gì?

Tùy thuộc vào vị trí vi khuẩn gây bệnh, bệnh bạch hầu sẽ có các biểu hiện khác nhau như:

Triệu chứng bệnh bạch hầu mũi trước

  • Bệnh nhân sổ mũi, chảy mũi ra chất mủ nhầy đôi khi có lẫn máu.
  • Khi khám thầy thuốc có thể thấy màng trắng ở vách ngăn mũi.
  • Thể bệnh này thường nhẹ do độc tố vi khuẩn ít thâm nhập vào máu.

Triệu chứng bệnh bạch hầu họng và amidan

  • Bệnh nhân mệt mỏi, đau cổ họng, chán ăn, sốt nhẹ.
  • Sau 2-3 ngày, sẽ xuất hiện một đám hoại tử tạo thành lớp giả mạc màu trắng xanh, dai và dính chắc vào amiđan, hoặc có thể lan rộng bao phủ cả vùng hầu họng.
  • Thường thể bệnh này các độc tố ngấm vào máu nhiều và có thể gây tình trạng nhiễm độc toàn thân.
  • Một số bệnh nhân có thể sưng nề vùng dưới hàm và sưng các hạch vùng cổ làm cổ bạnh ra như cổ bò.
  • Những trường hợp nhiễm độc nặng bệnh nhân sẽ phờ phạc, xanh tái, mạch nhanh, đờ đẫn, hôn mê.
  • Các bệnh nhân này nếu không được điều trị tích cực có thể tử vong trong vòng 6-10 ngày.

bệnh bạch hầu

Triệu chứng bạch hầu thanh quản

Đây là thể bệnh tiến triển nhanh và rất nguy hiểm. Bệnh nhân thường biểu hiện bằng dấu hiệu:

  • Sốt, khàn tiếng, ho ông ổng như tiếng chó sủa.
  • Xuất hiện các giả mạc tại ngay thanh quản hoặc từ hầu họng lan xuống.
  • Nếu không được xử trí kịp thời, các giả mạc này có thể gây tắc đường thở làm bệnh nhân suy hô hấp và có nguy cơ tử vong nhanh chóng.

Triệu chứng bạch hầu các vị trí khác

Các triệu chứng khác thường rất hiếm gặp và nhẹ, vi khuẩn bạch hầu có thể gây loét ở da, niêm mạc như niêm mạc mắt, âm đạo hay ống tai.

>>> Xem thêm: Thực trạng quá tải và các vấn đề trong cấp cứu là gì?

5. Bệnh bạch hầu có phổ biến nhiều trên thế giới?

Bạch hầu hiếm khi xảy ra ở Hoa Kỳ và Tây Âu, nơi trẻ em đã được tiêm vắc-xin chống lại tình trạng này trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, bệnh bạch hầu vẫn còn phổ biến ở các nước đang phát triển – nơi tỷ lệ tiêm chủng thấp.

Đối với những nơi ưu tiên việc tiêm vắc-xin bạch hầu là tiêu chuẩn, căn bệnh này chủ yếu là mối đe dọa đối với những người chưa được tiêm phòng hoặc tiêm phòng không đầy đủ, những người đi du lịch quốc tế hoặc tiếp xúc với những người từ các nước kém phát triển.

6. Bệnh bạch hầu tại Việt Nam như thế nào?

Ở Việt Nam, thời kỳ chưa thực hiện tiêm vắc xin bạch hầu trong Chương trình tiêm chủng mở rộng thì bệnh bạch hầu thường xảy ra và gây dịch ở hầu hết các tỉnh, đặc biệt là ở các nơi có mật độ dân cư cao. Theo báo cáo từ Bộ Y tế, tỷ lệ mắc bạch hầu liên tục giảm từ năm 1984 đến nay, tương ứng với sự gia tăng tỷ lệ trẻ được tiêm chủng bạch hầu – ho gà – uốn ván.

Do thực hiện tốt việc tiêm vắc xin bạch hầu nên tỷ lệ mắc bạch hầu ở Việt Nam đã giảm dần từ 3,95/100.000 dân từ năm 1985 xuống 0,14/100.000 dân trong năm 2000. Tính đến năm 2012 Việt Nam đã khống chế tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu xuống dưới 0,01/100.000 dân, đa số là trường hợp tản phát hoặc ổ bệnh bạch hầu nhỏ trên quy mô thôn, xã và thường xảy ra ở các khu vực vùng sâu, vùng xa nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp.

bệnh bạch hầu

Theo báo cáo của chương trình tiêm chủng mở rộng ở trẻ em dưới 5 tuổi, tỷ lệ tiêm chủng vắc xin phối hợp có chứa thành phần kháng nguyên bạch hầu trong nhiều năm đạt trên 90%.

Thống kê năm 2015 cho thấy trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ (tiêm chủng 1 liều vắc xin phòng lao, 3 liều vắc xin DPT-VGB-Hib, 3 liều vắc xin phòng bại liệt, 1 liều vắc xin phòng sởi) đạt tỉ lệ 97.2% trên toàn quốc, không khác biệt rõ rệt giữa các tỉnh thành lớn và vùng sâu, vùng xa.

Tuy nhiên hiện nay đối với vắc xin phòng bệnh bạch hầu cho người lớn lại chỉ có ở tiêm chủng dịch vụ nên khả năng bảo vệ của vắc xin trong cộng đồng người lớn sẽ thấp.

7. Sau khi mắc bệnh có bị tái nhiễm? Tiêm vắc xin bệnh bạch hầu bảo vệ được bao lâu?

Người đã từng bị nhiễm bệnh bạch hầu thì sau khi mắc bệnh sẽ có miễn dịch suốt đời, tuy nhiên với những nhóm người suy giảm miễn dịch tỉ lệ tái nhiễm bệnh khoảng từ 2 – 5%;

Miễn dịch bảo vệ sau tiêm vắc xin thường kéo dài khoảng 10 năm, hiệu quả bảo vệ của vắc xin lên đến 97% nhưng sẽ giảm dần theo thời gian, do vậy nếu không tiêm nhắc lại vẫn có thể mắc bệnh;

8. Biến chứng của Bệnh bạch hầu có nguy hiểm?

Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh bạch hầu có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm và thậm chí là tử vong. Các biến chứng ảnh hưởng sức khoẻ như:

Vấn đề về hơi thở

Vi khuẩn gây bệnh bạch hầu có thể tạo ra độc tố. Độc tố này gây tổn thương mô ở vùng bị nhiễm trùng ngay lập tức – thường là mũi và cổ họng. Tại vị trí đó, nhiễm trùng tạo ra một lớp màng cứng, màu xám bao gồm các tế bào chết, vi khuẩn và các chất khác. Lớp màng này có thể gây cản trở hô hấp khiến người bệnh khó thở.

Đau tim – Suy tim – Đột tử

Độc tố bạch hầu có thể lây lan qua dòng máu của bạn và làm hỏng các mô khác trong cơ thể, chẳng hạn như cơ tim, gây ra các biến chứng như đau tim, viêm cơ tim. Tổn thương tim do viêm cơ tim có thể nhẹ hoặc nặng. Ở mức tồi tệ nhất, viêm cơ tim có thể dẫn đến suy tim sung huyết và đột tử.

bệnh bạch hầu

Tổn thương các dây thần kinh

Độc tố của bệnh bạch hầu cũng có thể gây tổn thương thần kinh. Mục tiêu điển hình là dây thần kinh đến cổ họng, nơi dẫn truyền thần kinh kém có thể gây khó nuốt. Thần kinh đến cánh tay và chân cũng có thể bị viêm, gây yếu cơ.

Nếu độc tố bạch hầu làm tổn thương các dây thần kinh giúp kiểm soát các cơ được sử dụng trong hơi thở, các cơ này có thể bị tê liệt. Nếu được điều trị, hầu hết những người mắc bệnh bạch hầu đều sống sót sau những biến chứng này, nhưng quá trình phục hồi thường chậm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) – bệnh bạch hầu có tỷ lệ tử vong cao hơn ở trẻ em.

>>> Xem thêm: Vitamin C có nhiều trong thực phẩm nào?

9. Bệnh bạch hầu có thể phòng ngừa không?

Trước khi có thuốc kháng sinh, bạch hầu là một bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ. Ngày nay, căn bệnh này không chỉ có thể chữa được mà còn có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin.

Vắc-xin bạch hầu thường được kết hợp với vắc-xin uốn ván và ho gà – gọi là vắc-xin 3 trong 1 hoặc kết hợp vắc xin 4 trong 1 là bạch hầu – ho gà – uốn ván – bại liệt. Phiên bản mới nhất của vắc-xin này được gọi là vắc-xin DTaP cho trẻ em và vắc-xin Tdap cho thanh thiếu niên và người lớn.

Vắc-xin bạch hầu, uốn ván và ho gà là một trong những loại vắc-xin cho trẻ em mà các bác sĩ tại Hoa Kỳ khuyên dùng trong thời kỳ sơ sinh. Tiêm vắc-xin bao gồm một loạt 5 mũi tiêm, thường được tiêm ở cánh tay hoặc đùi cho trẻ em ở các độ tuổi như:

  • Trẻ sơ sinh 2 tháng, 4 tháng và 6 tháng tuổi
  • Trẻ sơ sinh 15 đến 18 tháng tuổi
  • Trẻ em từ 4 đến 6 tuổi

10. Vắc-xin bạch hầu có gây tác dụng phụ không?

Vắc-xin bạch hầu có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh bạch hầu. Nhưng có thể có một số tác dụng phụ. Một số trẻ có thể bị sốt nhẹ, quấy khóc, buồn ngủ hoặc đau tại chỗ tiêm sau khi tiêm vắc xin DTaP. Tốt nhất, bạn nên xin lời khuyên từ bác sĩ về những gì bạn có thể làm cho con của mình để giảm thiểu hoặc làm giảm các tác dụng phụ này.

Tuy nhiên hiếm khi vắc-xin DTaP gây ra các biến chứng nghiêm trọng, trẻ có thể gặp một số tác dụng phụ chẳng hạn như phản ứng dị ứng (nổi mề đay hoặc phát ban trong vòng vài phút sau khi tiêm).

bệnh bạch hầu

11. Người lớn có cần tiêm vắc-xin bạch hầu nếu đã từng tiêm lúc nhỏ?

Sau loạt tiêm chủng ban đầu ở thời thơ ấu, bạn cần tiêm nhắc lại vắc-xin bạch hầu để giúp bạn duy trì khả năng miễn dịch. Đó là bởi vì khả năng miễn dịch đối với bệnh bạch hầu mất dần theo thời gian.

Trẻ em được tiêm chủng khuyến cáo trước 7 tuổi nên được tiêm mũi đầu tiên vào khoảng 11 hoặc 12 tuổi. Lần tiêm nhắc tiếp theo được khuyến nghị 10 năm sau, sau đó lặp lại sau khoảng thời gian 10 năm.

Tdap là vắc-xin uốn ván kết hợp, bạch hầu và ho gà. Đây là loại vắc-xin thay thế một lần cho thanh thiếu niên từ 11 đến 18 tuổi và người trưởng thành trước đây chưa từng sử dụng thuốc tăng cường Tdap. Nó cũng được khuyên dùng một lần trong khi mang thai, bất kể tiêm chủng trước đó.

Nên tham khảo ý kiến từ bác sĩ về vắc-xin và tiêm nhắc lại nếu bạn không chắc chắn về tình trạng tiêm chủng của mình. Vắc-xin Tdap cũng có thể được khuyến nghị là một phần của loạt vắc-xin Td dành cho trẻ em từ 7 đến 10 tuổi không cập nhật với lịch tiêm vắc-xin.

12. Tiêm vắc xin phòng bệnh bạch hầu như thế nào?

Tiêm chủng vắc xin phòng bệnh bạch hầu mang đến hiệu quả rõ rệt, giúp phòng ngừa, giảm tỷ lệ mắc bệnh và tránh những hậu quả của bệnh bạch hầu cho trẻ em, người lớn và phụ nữ mang thai.

Vắc xin phòng bệnh bạch hầu cũng được đánh giá là rất an toàn, tất cả trẻ em sinh ra từ người mẹ đã được chủng ngừa đều khỏe mạnh và phát triển bình thường. Tuy nhiên, cần lựa chọn địa điểm tiêm chủng uy tín, an toàn và đảm bảo chất lượng vắc xin tốt nhất để đạt được hiệu quả phòng bệnh cao và tránh những rủi ro nguy hiểm.

Đối với trẻ em, vắc xin bạch hầu có trong tất cả các vắc xin kết hợp 3 trong 1; 4 trong 1; 5 trong 1 hay 6 trong 1, dành cho trẻ từ 6 tuần đến 6 tuổi:

Loại vắc xinVắc xin Hexaxim (Pháp),
Vắc xin Infanrix Hexa (Bỉ)
Vắc xin  Tetraxim (Pháp)Vắc xin Adacel (Canada) /
Vắc xin Boostrix (Bỉ)
Phòng bệnhVắc xin tổng hợp 6 trong 1 phòng 6 bệnh:
– Bạch hầu, Ho gà,
– Uốn ván, Bại liệt,
– Viêm gan B, Hib
Vắc xin tổng hợp 4 trong 1 phòng 4 bệnh:
– Bạch hầu, Ho gà,
– Uốn ván,
– Bại liệt
Vắc xin tổng hợp phòng 3 bệnh:
– Bạch hầu,
– Ho gà,
– Uốn ván
Dành choTrẻ từ 2 -24 tháng tuổiTrẻ từ 2 tháng tuổi đến 13 tuổiTrẻ từ 4 tuổi và người lớn
Lịch tiêm chủngLịch tiêm 4 mũi:
– Mũi 1, 2, 3: Khi trẻ 2, 3, 4 tháng tuổi hoặc 2, 4, 6 tháng tuổi
– Mũi 4: Khi trẻ 16 – 18 tháng tuổi
Lịch tiêm 5 mũi:
– Mũi 1, 2, 3: Khi trẻ 2, 3, 4 tháng tuổi hoặc 2, 4, 6 tháng tuổi.
– Mũi 4: Khi trẻ 16 – 18 tháng tuổi.
– Mũi 5: Trẻ từ 4 – 6 tuổi
Tiêm 1 mũi Tiêm nhắc lại sau mỗi 10 năm

Với phụ nữ mang thai, vắc xin Boostrix có thể xem xét tiêm trong 3 tháng cuối thai kỳ. Sau khi tiêm vắc xin, kháng thể hình thành trong cơ thể mẹ sẽ truyền cho thai nhi để bảo vệ trẻ không bị mắc bệnh bạch hầu – uốn ván – ho gà trong suốt thời gian “khoảng trống miễn dịch” trước khi trẻ đến lịch tiêm chủng.

>>> Trích nguồn bài viết từ Wiki FCarePlus

 

 

0 0 bình chọn
Article Rating