Bệnh bạch hầu trước đây được gọi bằng nhiều tên khác nhau, tên chính thức của bệnh được đặt từ bác sĩ người Pháp Pierre Bretonneau (1778-1862), người gọi căn bệnh này là Diphtérite. Nguồn gốc là từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là da da, hay da, một mô tả về lớp phủ xuất hiện trong cổ họng (nghĩa là pseudomembrane).

Bệnh bạch hầu từng là nguyên nhân phổ biến gây ra cả bệnh tật và tử vong cho trẻ em ở Hoa Kỳ. Trong những năm 1920, Hoa Kỳ đã từng có tới 200.000 trường hợp mắc bệnh bạch hầu mỗi năm. Nhờ có vắc-xin tiêm ngừa bạch hầu, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm khoảng 99,9%.

Bệnh bạch hầu là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em trên toàn thế giới, bao gồm cả ở Hoa Kỳ. Do sự thành công của chương trình tiêm chủng tại Hoa Kỳ, bệnh bạch hầu hiện nay gần như chưa xuất hiện trở lại ở nước này.

Tuy nhiên, căn bệnh này tiếp tục gây nguy hiểm trên toàn cầu và đã có những trường hợp nhiễm bệnh dịch được báo cáo trong những năm gần đây. Năm 2018, các quốc gia đã báo cáo hơn 16.000 trường hợp mắc bệnh bạch hầu cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và có khả năng nhiều trường hợp nữa xuất hiện ở các khu vực khác.

Vi khuẩn bạch hầu có thể lây lan trong không khí như ho, hắt hơi…..Mọi người cũng có thể bị bệnh do chạm vào vết loét hoặc vết loét bị nhiễm trùng. Cùng  tìm hiểu và giải đáp những câu hỏi chuyên sâu hơn về những vấn đề liên quan đến căn bệnh bạch hầu này, nhằm giúp bạn hiểu rõ hơn về những triệu chứng, biến chứng và các phương pháp phòng ngừa hiệu quả.

bệnh bạch hầu

1. Bệnh Bạch Hầu là gì?

Bệnh bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae (gọi tắt là vi khuẩn C. Diphtheriae) gây ra. Các dấu hiệu và triệu chứng thường bắt đầu từ 2 – 5 ngày sau khi tiếp xúc và từ nhẹ đến nặng. Các triệu chứng thường xuất hiện dần dần, bắt đầu bằng đau họng và sốt.

Trong trường hợp nghiêm trọng, vi khuẩn tạo ra độc tố, gây ra một mảng dày màu xám hoặc trắng ở phía sau cổ họng. Điều này có thể chặn đường thở khiến người mắc bệnh bị khó thở hoặc nuốt cũng tạo ra tiếng ho sủa. Cổ có thể sưng một phần do các hạch bạch huyết mở rộng.

Chất độc từ vi khuẩn C. Diphtheriae cũng có thể xâm nhập vào dòng máu, gây ra các biến chứng có thể bao gồm viêm và tổn thương cơ tim, viêm dây thần kinh, các vấn đề về thận và các vấn đề chảy máu do tiểu cầu thấp. Bạch hầu có thể được điều trị bằng thuốc. Nhưng trong giai đoạn tiến triển, bệnh bạch hầu có thể làm ảnh hưởng sức khỏe tim, thận và hệ thần kinh của bạn. Ngay cả khi điều trị, bệnh bạch hầu có thể gây tử vong, đặc biệt là ở trẻ em.

Các cơ tim khi bị tổn thương có thể dẫn đến nhịp tim bất thường và viêm dây thần kinh có thể dẫn đến tê liệt. Nó có thể dẫn đến khó thở, suy tim, tê liệt và thậm chí tử vong. Theo CDC (Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ) khuyến cáo nên tiêm vắc-xin cho trẻ sơ sinh, trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn để phòng bệnh bạch hầu.

bệnh bạch hầu

2. Bệnh bạch hầu lây lan như thế nào?

Bệnh bạch hầu là do vi khuẩn C. Diphtheriae nhân lên trên hoặc gần bề mặt của cổ họng. Bệnh lây lan từ người sang người qua:

2.1 Những giọt nước trong không khí

Khi một người bị nhiễm bệnh hắt hơi hoặc ho sẽ tiết ra một giọt sương bị ô nhiễm, những người ở gần đó có thể hít phải C. diphtheriae. Bệnh bạch hầu lây lan dễ dàng theo cách này, đặc biệt là trong điều kiện đông đúc.

2.2 Các vật dụng cá nhân hoặc gia đình bị ô nhiễm

Mọi người có thể bị lây và mắc bệnh bạch hầu khi xử lý những vật dụng của người bị nhiễm bệnh, chẳng hạn như khăn giấy hoặc khăn lau tay đã sử dụng và có thể bị nhiễm vi khuẩn. Bạn cũng có thể lây vi khuẩn gây bệnh bạch hầu bằng cách chạm vào vết thương bị nhiễm trùng của người bệnh.

Những người bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu và chưa được điều trị có thể lây nhiễm cho những người chưa tiêm vắc-xin bạch hầu – ngay cả khi họ không có bất kỳ triệu chứng nào.

3. Triệu chứng của bệnh bạch hầu là gì?

Bệnh bạch hầu có thể gây nhiễm trùng đường hô hấp (các bộ phận của cơ thể liên quan đến hơi thở) và da. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh bạch hầu phụ thuộc vào phần cơ thể bị ảnh hưởng, và thường bắt đầu từ hai đến năm ngày sau khi một người bị nhiễm bệnh, bao gồm:

3.1 Bạch hầu hô hấp

  • Một màng dày, màu xám bao phủ cổ họng và amidan của bạn
  • Đau họng và khàn giọng
  • Các tuyến bị sưng (hạch bạch huyết mở rộng) ở cổ của bạn
  • Khó thở hoặc thở nhanh
  • Chảy nước mũi
  • Sốt và ớn lạnh
  • Khó chịu, Mệt mỏi, yếu đuối

Các vi khuẩn phổ biến nhất lây nhiễm hệ thống hô hấp, bao gồm các bộ phận của cơ thể liên quan đến hơi thở. Khi vi khuẩn xâm nhập và bám vào lớp lót của hệ hô hấp, nó có thể tạo ra một chất độc giết chết các mô khỏe mạnh trong hệ hô hấp. Trong vòng hai đến ba ngày, các mô chết tạo thành một lớp phủ dày, màu xám có thể tích tụ trong cổ họng hoặc mũi. Các chuyên gia y tế gọi lớp phủ dày, màu xám này là Pseudomembrane.

Lớp phủ dày màu xám có thể bao phủ các mô trong mũi, amidan, hộp giọng nói và cổ họng, khiến bạn rất khó thở và khó nuốt. Nếu chất độc xâm nhập vào dòng máu, nó có thể gây tổn thương tim, thần kinh và thận.

Ở một số người, nhiễm vi khuẩn gây bệnh bạch hầu chỉ gây ra một bệnh nhẹ – hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng rõ ràng nào cả. Những người bị nhiễm mà không biết về bệnh của họ được gọi là người mang bệnh bạch hầu, bởi vì họ có thể lây nhiễm mà không bị bệnh.

bệnh bạch hầu

3.2 Nhiễm trùng da bạch hầu

Các vi khuẩn cũng có thể gây ảnh hưởng đến da, gây đau, nhiễm trùng da, đỏ và sưng loét hoặc loét hở tương tự như các bệnh nhiễm trùng da do vi khuẩn khác. Vết loét bao phủ bởi một màng màu xám cũng có thể là bạch hầu da. Tuy nhiên, nhiễm trùng bạch hầu hiếm khi dẫn đến bất kỳ bệnh nghiêm trọng nào khác.

4. Bệnh bạch hầu gây nên biến chứng gì?

Bệnh bạch hầu hô hấp có thể làm hỏng cơ tim. Các biến chứng do bệnh bạch hầu đường hô hấp (khi vi khuẩn lây nhiễm sang các bộ phận của cơ thể liên quan đến hô hấp) có thể bao gồm:

  • Tắc nghẽn đường thở
  • Tổn thương cơ tim (viêm cơ tim)
  • Tổn thương thần kinh (bệnh đa dây thần kinh)
  • Mất khả năng di chuyển (tê liệt)
  • Suy thận

Đối với một số người, bệnh bạch hầu hô hấp có thể dẫn đến tử vong. Ngay cả khi được điều trị, khoảng 1 trong 10 bệnh nhân mắc bệnh bạch hầu hô hấp vẫn có thể tử vong. Nếu không điều trị đúng cách, có tới một nửa số bệnh nhân có thể chết vì căn bệnh này.

Tất cả các biến chứng của bệnh bạch hầu kể cả tử vong đều là hậu quả của độc tố. Mức độ trầm trọng của bệnh và biến chứng thường tương quan với mức độ lan tỏa của tổn thương tại chỗ. Độc tố tại vị trí tổn thương ban đầu này được hấp thu vào máu và gây nên biến chứng ở các cơ quan xa. Biến chứng thường gặp nhất trong bệnh bạch hầu là viêm cơ tim và viêm dây thần kinh.

>>> Xem thêm: Người dân Việt Nam thường gặp trở ngại gì đối với vấn đề sức khỏe?

4.1 Viêm cơ tim thường

Biến chứng này có biểu hiện bằng các rối loạn nhịp, nhĩ thất ở các mức độ khác nhau, đôi khi phân li nhĩ thất, rung thất kèm suy tim. Điều trị biến chứng này cực kỳ khó khăn, đôi khi phải dùng máy tạo nhịp.

Biến chứng có thể xảy ra trong giai đoạn toàn phát của bệnh hoặc cũng có thể xảy ra chậm vài tuần sau khi bênh đã khỏi. Khi viêm cơ tim xuất hiện sớm trong những ngày đầu của bệnh, tỉ lệ tử vong rất cao.

4.2 Viêm dây thần kinh

Biến chứng này thường ảnh hưởng đến dây thần kinh vận động và thường hồi phục hoàn toàn nếu bệnh nhân không tử vong vì biến chứng khác. Liệt màn khẩu cái (màn hầu) thường xuất hiện vào tuần thứ ba của bệnh.

Liệt các dây thần kinh vận nhãn, cơ chi và liệt cơ hoành có thể xảy ra vào tuần thứ năm của bệnh. Viêm phổi và suy hô hấp có thể xuất hiện do hậu quả của liệt cơ hoành.

bệnh bạch hầu

4.3 Các biến chứng khác

Các biến chứng khác của bệnh bạch hầu có thể xảy ra như: viêm kết mạc mắt hoặc suy hô hấp do tắt nghẽn đường hô hấp có thể xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là nhũ nhi.

Tỉ lệ tử vong vào khoảng 5 đến 10% có thể tăng cao đến 20% ở trẻ em dưới 5 tuổi và người lớn trên 40 tuổi. Tỉ lệ tử vong của bệnh bạch hầu dường như không thay đổi trong vòng 50 năm qua.

5. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh bạch hầu là gì?

Trẻ em ở Hoa Kỳ và Châu Âu thường xuyên được tiêm phòng bệnh bạch hầu, vì vậy tình trạng này rất hiếm gặp ở những nơi này. Tuy nhiên, bệnh bạch hầu vẫn còn khá phổ biến ở các nước đang phát triển nơi tỷ lệ tiêm chủng thấp. Ở những nước này, trẻ em dưới 5 tuổi và người trên 60 tuổi đặc biệt có nguy cơ mắc bệnh bạch hầu.

Mặc dù bệnh bạch hầu phổ biến hơn ở các vùng khí hậu nhiệt đới, nhưng bệnh bạch hầu trên da cũng xảy ra ở Hoa Kỳ, đặc biệt là ở những người có vệ sinh kém, sống trong điều kiện đông đúc.

>>> Xem thêm: Hỏi đáp bác sĩ – Tư vấn 5 câu hỏi liên quan về sức khỏe

6. Bệnh bạch hầu được chia thành các thể bệnh nào?

Thời kỳ ủ bệnh thường từ 2 đến 5 ngày (thay đổi từ 1 đến 10 ngày). Hầu như tất cả các tổ chức niêm mạc đều có thể biểu hiện bệnh. Để thuận tiện trong thực hành lâm sàng, bệnh bạch hầu thường được phân chia thành các thể tùy theo vị trí biểu hiện như:

6.1 Bệnh bạch hầu mũi trước

Bệnh bạch hầu mũi trước thường khó phân biệt với các bệnh lý viêm mũi họng cấp khác trên lâm sàng. Bệnh cũng biểu hiện bằng xuất tiết mủ, nhầy (chất xuất tiết chứa cả mủ lẫn dịch tiết niêm mạc) đôi khi có lẫn máu. Thường sẽ phát hiện được một màng trắng ở vách ngăn mũi nếu thăm khám cẩn thận. Thể bệnh này thường tương đối nhẹ vì độc tố ở vị trí này ít được hấp thu vào máu.

bệnh bạch hầu

6.2 Bệnh bạch hầu họng và A-mi-đan

Bệnh bạch hầu họng và A-mi-đan là thể bệnh thường gặp nhất của bạch hầu. Nhiễm trùng tại vị trí này thường kèm theo sự hấp thu độc tố vào máu rất nhiều. Khởi phát viêm họng thường âm ỉ. Bệnh có thể biểu hiện sớm bằng các dấu hiệu như: mệt mỏi toàn thân, đau cổ họng, chán ăn, sốt nhẹ. Sau 2 đến 3 ngày, một lớp màng màu trắng xanh xuất hiện và lan rộng dần.

Màng giả có thể chỉ khu trú ở khu vực A-mi-đan hoặc có thể lan rộng bao phủ cả màn hầu. Thường khi bệnh nhân đến gặp bác sĩ thì lớp màng giả này đã chuyển sang màu xanh xám hoặc màu đen nếu có chảy máu. Khu vực xung quanh của lớp màng giả này chỉ có biểu hiện sưng nề nhẹ. Nếu cố gắng bóc lớp màng này ra thì dễ dàng gây chảy máu. Nếu màng giả lan rộng thì có thể gây tắc nghẽn đường hô hấp.

Bệnh nhân có thể lành bệnh nhưng nếu độc tố được hấp thu với lượng nhiều thì có thể có những biểu hiện nhiễm độc như: phờ phạc, xanh tái, mạch nhanh, đờ đẫn, hôn mê và có thể tử vong trong vòng 6 đến 10 ngày. Sốt thường không cao mặc dù bệnh nhân biểu hiện nhiễm độc cực kỳ nặng nề. Bệnh nhân mắc bệnh nặng có thể biểu hiện phù nề vùng dưới hàm và sưng các hạch bạch huyết vùng cổ tạo nên một dấu hiệu lâm sàng rất đặc trưng gọi là dấu hiệu bạnh cổ bò (bullneck).

6.3 Bệnh bạch hầu thanh quản

Bệnh bạch hầu thanh quản có thể do bạch hầu họng lan xuống nhưng cũng có thể do bệnh tại chỗ. Đây là thể bệnh tiến triển nhanh và cực kỳ nguy hiểm. Dấu hiệu lâm sàng gồm sốt, khàn giọng, ho giống ông ổng như chó sủa (barking cough). Do thanh quản là nơi hẹp nhất của đường thở nên nếu màng giả mạch hầu phát triển ở đây, nguy cơ gây tắt nghẽn đường thở rất nhanh đưa đến hôn mê và tử vong.

6.4 Bệnh bạch hầu da

Bệnh bạch hầu da thường gặp ở những vùng nhiệt đới có thể do nơi đây tỉ lệ bệnh lưu hành cao hơn và nhiều người có miễn dịch tự nhiên với bệnh. Đây là một thể bệnh nhẹ và chúng thường không sinh độc tố. Biểu hiện có thể dưới hình thức một vết ban da bong vảy hoặc một vết mạn tính có bờ rõ.

6.5 Các thể bệnh bạch hầu khác

Bạch hầu ở các vị trí khác có thể gặp là kết mạc mắt, niêm mạc vùng âm hộ – âm đạo hoặc lỗ tai ngoài.

7. Khi nào bạn nên đi khám bác sĩ?

Hãy đến gặp bác sĩ ngay lập tức nếu bạn hoặc con bạn đã tiếp xúc với người mắc bệnh bạch hầu. Nếu bạn không chắc chắn liệu con của mình đã được tiêm phòng bệnh bạch hầu hay chưa, hãy sắp xếp một lịch hẹn khám và gặp các chuyên gia tư vấn để tìm hiểu rõ hơn. Hãy chắc chắn rằng, bạn và cả gia đình của mình (nhất là đối với trẻ nhỏ) đều được tiêm chủng vắc-xin bệnh bạch hầu đầy đủ theo khuyến nghị của Bộ Y tế.

>>> Trích nguồn từ Wiki FCarePlus

 

 

5 1 bình chọn
Article Rating